cn3d-1664-9982jpg-1787562763.webp

Trước khi tiến hành bấm nút biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo luật. Việc chỉnh lý được thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, đổi mới tư duy lập pháp và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình. Tinh thần chủ đạo của đạo luật là phát huy tính chủ động của địa phương theo phương châm địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm. 

111-20260824110146-1787562827.webp

Một trong những điểm trọng tâm của Luật Phát triển đô thị là việc phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền địa phương trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Cụ thể, Hội đồng nhân dân Thành phố được trao quyền quy định cơ chế quản lý, tài chính, sử dụng tài sản công và huy động nguồn lực xã hội hóa cho các cơ sở giáo dục nhiều cấp học, cơ sở chất lượng cao, mô hình trường tiên tiến hiện đại và các chương trình liên kết giáo dục.  

20260824-luatptdt-2-1787562896.jpg

Hội đồng nhân dân Thành phố cũng quyết định các chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút tài năng, cấp học bổng, hỗ trợ kinh phí cho người học, nhà giáo và cán bộ quản lý đi học tập, nghiên cứu ở trong và ngoài nước thuộc các ngành trọng điểm. Ngoài ra, cơ quan này còn ban hành cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu dịch vụ đào tạo đối với các cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp, viện nghiên cứu để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời quy định các chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động giáo dục. 

1787543518546-4596307856145042676-4596307856145042676-7c885f8cd33f12be720b39c82464dffa-20260824110030-20260824110637-1787562852.jpg

Ở cấp điều hành, Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền quy định việc liên kết giáo dục giữa các cơ sở mầm non, phổ thông công lập và tư thục với tổ chức nước ngoài; ban hành tiêu chí bảo đảm chất lượng giáo dục cho các trường trọng điểm; bổ sung hoặc ban hành chương trình giáo dục mầm non và phổ thông riêng phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương nhưng vẫn phải bảo đảm các yêu cầu cốt lõi và nội dung bắt buộc của chương trình quốc gia. 

dji-0728-20250711152044-1787562875.jpg

Căn cứ trên các quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố được giao thẩm quyền quyết định việc thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể, đổi tên và cấp phép hoạt động đối với các trường đại học, cao đẳng công lập và tư thục do Thành phố quản lý. Đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng có vốn đầu tư nước ngoài hoặc có hợp tác liên kết đào tạo quốc tế trên địa bàn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố thực hiện quyền quyết định sau khi lấy ý kiến chuyên môn từ Bộ Giáo dục và Đào tạo. 

Luật Phát triển đô thị sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026. 

Luật Phát triển đô thị gồm 5 chương, 66 điều, cụ thể như sau:

Chương 1 về những quy định chung (gồm 5 điều, từ Điều 1 đến Điều 5) quy định về: phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đối với chính quyền thành phố; nguyên tắc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền đối với chính quyền địa phương ở nơi có khu kinh tế đặc biệt; áp dụng pháp luật.

Chương 2 về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt (gồm 37 điều, từ Điều 6 đến Điều 42) quy định về: tổ chức bộ máy, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị và trật tự an toàn đô thị; phát triển kinh tế; phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nguồn lực phát triển đô thị đặc biệt; liên kết, phát triển vùng.

Chương 3 về cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt (gồm 12 điều, từ Điều 43 đến Điều 54) quy định về: công nhận, tổ chức chính quyền tại khu kinh tế đặc biệt; nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy ở khu kinh tế đặc biệt; quy hoạch ở khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm trật tự, an toàn khu kinh tế đặc biệt; quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách ở khu kinh tế đặc biệt; thu hút nhà đầu tư chiến lược ở khu kinh tế đặc biệt; quản lý đầu tư ở khu kinh tế đặc biệt; quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường ở khu kinh tế đặc biệt; thu hút và phát triển nguồn nhân lực ở khu kinh tế đặc biệt; phát triển kinh tế biển thuộc phạm vi khu kinh tế đặc biệt; thẩm quyền thành lập, cơ chế, chính sách đối với khu phi thuế quan trong khu kinh tế đặc biệt; thành lập và kinh doanh cửa hàng miễn thuế.

Chương 4 về giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình (gồm 8 điều, từ Điều 55 đến Điều 62) quy định về: trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ; trách nhiệm của chính quyền thành phố; trách nhiệm của chính quyền thành phố không là đô thị đặc biệt; trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh nơi có khu kinh tế đặc biệt; trách nhiệm của chính quyền ở khu kinh tế đặc biệt; trách nhiệm của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận; xử lý vi phạm, loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý.

Chương 5 về điều khoản thi hành (gồm 4 điều, từ Điều 63 đến Điều 66) quy định về: hiệu lực thi hành; điều khoản chuyển tiếp về cơ chế, chính sách đối với Thành phố Hồ Chí Minh; điều khoản chuyển tiếp về cơ chế, chính sách đối với thành phố không là đô thị đặc biệt; điều khoản chuyển tiếp về cơ chế, chính sách đối với khu kinh tế đặc biệt.

Luật Phát triển đô thị quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thành phố là đô thị loại đặc biệt, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt. Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố khác là đô thị đặc biệt được áp dụng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại luật này. Thành phố Hà Nội thực hiện theo quy định tại Luật Thủ đô.

Thành phố không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 điều này được áp dụng một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại luật này, trừ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 16 và mục 7, chương 2 của luật này.

Khu kinh tế đặc biệt được áp dụng cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt quy định tại luật này. Tỉnh, thành phố nơi có khu kinh tế đặc biệt được thực hiện một số cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt quy định tại chương 2 của luật này để áp dụng trên địa bàn khu kinh tế đặc biệt, trừ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 7, Điều 8 và điểm a khoản 1 Điều 16 và mục 7, chương 2 của luật này.

Chính phủ quy định phạm vi áp dụng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt cho các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này trong trường hợp có chủ trương của cấp có thẩm quyền, trên cơ sở phù hợp với điều kiện đặc thù, định hướng phát triển, năng lực thực thi của từng địa phương và bảo đảm các nguyên tắc quy định tại các khoản 1, 2, 4 và 5 Điều 3 của luật này.

Trường hợp cần thí điểm cơ chế, chính sách khác hoặc chưa được quy định trong luật này, văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, Chính phủ ban hành nghị định sau khi có chủ trương của cấp có thẩm quyền và được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.